Chatbox
    You don't have permission to chat.
    Load More

Forums

  1. Người Việt TV

    1. 2
      posts
    2. 225
      posts
    3. Quê Nhà & Quê Người

      Với nhà văn Huy Phương

      113
      posts
    4. 118
      posts
    5. 41
      posts
    6. Giờ Giải Ảo

      Với chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa

      178
      posts
  2. Tin Tức Thời Sự

    1. 1,301
      posts
    2. 758
      posts
    3. 4,672
      posts
    4. 124
      posts
    5. 593
      posts
    6. 165
      posts
    7. 490
      posts
    8. 52
      posts
    9. 17
      posts
  3. Đời Sống Xã Hội & Tâm Linh

    1. 75
      posts
    2. 129
      posts
    3. 3
      posts
    4. 39
      posts
  4. Văn Hóa & Nghệ Thuật

    1. 197
      posts
    2. Lịch Sử

       

       

      196
      posts
    3. 7
      posts
    4. 46
      posts
    5. 95
      posts
  5. Âm Nhạc

    1. 45
      posts
    2. 1,495
      posts
    3. 22
      posts
  6. Điện Ảnh

    1. 7
      posts
    2. 2
      posts
  7. Thư Giãn

    1. 167
      posts
  • Posts

    • Món nợ của Thổ Nhĩ Kỳ
      Nguyễn Xuân Nghĩa
      2018-08-14
        Bảng điện tử cập nhật tỉ giá của đồng Lira so với Mỹ kim và đồng Euro tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vào ngày 13 tháng 8,2018  AFP Món nợ của Thổ Nhĩ Kỳ    Dù Thổ Nhĩ Kỳ không có nền kinh tế đủ lớn để gây ảnh hưởng toàn cầu nhưng cuộc khủng hoảng vẫn là điều bất lợi cho các nước đang phát triển vì gánh nợ quá lớn của các xứ này. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu tại sao… Vì sao có cuộc khủng hoảng? Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trận chiến mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang gây hậu quả bất lợi cho các nền kinh tế Á Châu, kể cả Việt Nam và nhất là Việt Nam, thì vụ khủng hoảng bùng nổ tại Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ lại là một biến cố đáng ngại khác. Vì vậy, mục Diễn đàn Kinh tế tuần này xin đề nghị ông phân tích cho nguyên nhân và hậu quả của vụ Thổ Nhĩ Kỳ đối với Châu Á. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nếu chỉ theo dõi sự tình một cách hời hợt thì ta có thể ngạc nhiên vì sao lại có cuộc khủng hoảng tại Thổ Nhĩ Kỳ. Chẳng lẽ Chính quyền Hoa Kỳ lại trừng phạt một quốc gia đồng minh, thành viên của Minh ước Bắc Đại Tây Dương NATO chỉ vì số phận của một mục sư người Mỹ đã bị Chính quyền Thổ giam giữ từ hai năm nay? Sự thật nó không đơn giản như vậy vì nhiều biến cố xảy ra từ cuối năm 2002. - Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ là quốc gia nửa Âu nửa Á và nói về địa dư thì Á nhiều hơn Âu. Trăm năm trước, khi Đế quốc Hồi giáo Ottoman sụp đổ, bậc quốc phụ của nước Thổ là Mustapha Kemal đã muốn canh tân xứ sở theo mô hình Âu Châu với một chế độ mang tính chất thế quyền hơn thần quyền và loại bỏ ảnh hưởng của tôn giáo trong sinh hoạt chính trị. Sau đó do vị trí địa dư có tính chất chiến lược trên đại lục địa Âu-Á nhìn xuống vùng biển miền Nam, trong thời Chiến tranh lạnh, Thổ Nhĩ Kỳ được coi là một nước Tây Phương và là thành viên của Minh ước NATO để chặn đà bành trướng của Liên bang Xô viết. Nhưng khi Liên Xô tan rã rồi sụp đổ thì tình hình đã đổi khác kể từ năm 1992…. Nguyên Lam: Như vậy thì mọi sự có thể đã manh nha từ mấy chục năm trước rồi sao? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa là sau năm 2001, một trào lưu khác đã thành hình tại Thổ với một tập hợp chính trị mới là đảng Công lý và Phát triển, gọi tắt theo tiếng Thổ là AKP. Đảng này thắng cử nhiều lần kể từ năm 2002, theo xu hướng khôi phục ảnh hưởng của Hồi giáo và chủ nghĩa quốc gia dân tộc của người Thổ. Một lãnh tụ của đảng AKP là đương kim Tổng thống Recep Tayyip Erdogan lên lãnh đạo và dần dần thâu tóm quyền lực theo Tổng thống chế và muốn xứ sở phải là cường quốc trong khu vực tiếp cận với Âu Châu, Á Châu và Trung Đông. - Không may cho xứ Thổ, Chính quyền của ông Erdogan lại có nhiều sai lầm về chính sách kinh tế, quan trọng nhất là việc vay mượn quá khả năng thanh toán. Tai họa của Thổ là đi vay để bành trướng và nay không thể trả nợ. - Yếu tố ngoại giao là việc tách xa Tây phương mà lại vay ngoại tệ của ngân hàng Âu Châu rồi tiến tới chế độ toàn trị sau cuộc phản đảo chính vào Tháng Bảy năm 2016. Việc chế độ Erdogan bắt giam một mục sư người Mỹ theo đạo Tin Lành đã sống tại Thổ Nhĩ Kỳ từ 23 năm qua chỉ là giọt nước tràn ly chứ không là lý do vì xứ Thổ vừa đòi mua chiến đấu cơ F-35 của Mỹ, lại muốn mua hỏa tiễn địa-không S-400 của Nga mà ra tay chà đạp nhân quyền ở bên trong nên chế độ mất hết đồng minh trong chính trường Hoa Kỳ và làm các nước Âu Châu hoài nghi. Nhân duyên Nguyên Lam: Trên diễn đàn này, ông hay nói đến chuyện “nhân duyên”. Cái “nhân” là nguyên nhân khiến điều gì đó có thể sẽ xảy ra. Cái “duyên” là biến cố làm chuyện đó xảy ra vào thời điểm này. Như vậy, phải chăng là cái nhân của vụ khủng hoảng Thổ Nhĩ Kỳ đã có từ trước? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sai lầm kinh tế của Thổ Nhĩ Kỳ hay cái nhân là họ đi vay quá sức trả khiến đồng bạc mất giá từ lâu, rồi biện pháp trừng phạt của Mỹ mới gây khủng hoảng cho hệ thống ngân hàng của Thổ, sẽ lan ra các ngân hàng chủ nợ của quốc tế. Không có vụ mục sư Mỹ thì xứ này cũng bị khủng hoảng. Bài học kinh tế ở đây là chuyện đi vay, trường hợp khá phổ biến trong các nước đang phát triển trên thế giới. Nguyên Lam: Thưa ông, thế rồi tình hình sẽ ra sao? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngoài việc đả kích Hoa Kỳ để huy động quần chúng bên trong, Chính quyền Thổ chẳng có nhiều giải pháp kinh tế tài chính. Gánh nợ của Thổ hiện lên tới gần 500 tỷ đô la, đa số tới gần 80% là nợ bằng tiền Mỹ dù chưa hẳn là nợ các ngân hàng Mỹ, phần còn lại là nợ bằng đồng Euro của Âu Châu. Hơn 100 tỷ của khoản nợ quá lớn này sẽ đáo hạn trong năm nay. Họ không dám tăng lãi suất để đồng Lira khỏi mất giá vì sợ gây ra nạn suy trầm sản xuất và thất nghiệp. Nếu ra lệnh kiểm soát tư bản để tránh thất thoát ngoại tệ thì vẫn khó tránh vỡ nợ và chẳng được Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế tung tiền chuộc nợ để cấp cứu nếu không chấn chỉnh lại hệ thống công chi thu. Với ông Erdogan, việc cải cách theo điều kiện của IMF là một xâm phạm chủ quyền quốc gia. Giải pháp kia là xin Bắc Kinh trợ cấp tài chính thì chế độ lại càng lệ thuộc hơn vào một xứ ở xa, đang có quá nhiều vấn đề trong nội bộ. Bài học từ Thổ Nhĩ Kỳ Nguyên Lam: Từ chuyện Thổ Nhĩ Kỳ qua các nước khác, chúng ta có thể rút tỉa được những bài học gì, thưa ông? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta không quên rằng sau vụ Tổng suy trầm năm 2008-2009, khối kinh tế Âu-Mỹ-Nhật đã ào ạt hạ lãi suất tới gần số không nhằm kích thích kinh tế nhưng cũng gây ra hiện tượng tiền nhiều và rẻ. Vì vậy, giới đầu tư của các nền kinh tế đó, tại Hoa Kỳ, Âu Châu và Nhật Bản, mới đem tiền vào kiếm lời cao hơn trong các nước đang phát triển, như Cộng hòa Nam Phi, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ. Các quốc gia này thấy đó là cơ hội đi vay rất rẻ mà chẳng nghĩ tới ngày trả nợ. - Thế rồi khi kinh tế Hoa Kỳ phục hồi và Ngân hàng Trung ương Mỹ tăng lãi suất thì tiền Mỹ lên giá và thị trường Hoa Kỳ là cơ hội kiếm lời cao hơn. Các nước đang phát triển mà vay quá nhiều bằng ngoại tệ sẽ chết kẹt vì nội tệ của họ mất giá và việc trả nợ lại đắt hơn. Thổ Nhĩ Kỳ bị khủng hoảng vì ngoại giao nhưng mầm khủng hoảng đã có sẵn bên trong, nhiều xứ khác, như Pakistan hay Nam Phi, Argentina hay cả Indonesia cũng có thể bị như vậy và khủng hoảng dễ lây lan toàn cầu. Có lẽ ta cần nhớ lại một chuyện tương tự xảy ra 20 năm trước tại Đông Á. Nguyên Lam: Xin đề nghị ông nhắc lại chuyện này vì quả thật là đã quá xa xôi cho đa số thính giả của chúng ta. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thưa rằng ngày hai Tháng Bảy năm 1997, Thái Lan bị khủng hoảng vì đồng Baht của họ mất giá. Khi đó, thế giới còn ngợi ca phép lạ kinh tế Đông Á nên không ngờ là từ Thái nạn khủng hoảng đã tràn khắp Đông Á, từ Đông Nam Á như Malaysia, Philippines lên Đông Bắc Á, vào tới Nam Hàn, Đài Loan, rồi lan qua Liên bang Nga và dội ngược về thị trường Hoa Kỳ làm một tập đoàn đầu tư đối xung hay “hedge fund” của Mỹ bị phá sản. Bộ phận chuyển lực làm tai họa lây lan mấy ngàn cây số chính là các ngân hàng vì họ bị mất nợ. - Khi biến cố bùng nổ tại Thái Lan, ít ai nghĩ đến một vụ vỡ nợ dây chuyền. Ngày nay, chuyện Thổ phải làm ta nghĩ đến xứ Thái. Lần đó, Việt Nam chưa hội nhập vào luồng giao dịch tài chính quốc tế nên chỉ bị hậu quả gián tiếp, lần này thì khác vì Việt Nam cũng đi vay quá nhiều. Nguyên Lam: Vì thời lượng của chúng ta có hạn, Nguyên Lam xin đề nghị ông nêu ra một kết luận sơ khởi về hậu quả. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đi vay chỉ là tiêu sớm mà thôi. Khi vay thì phải nghĩ đến ngày trả. Vay ngắn hạn mà tiêu vào việc dài hạn không là giải pháp, và vay rẻ mà trả đắt là điều đang xảy ra. Việt Nam nên theo dõi chuyện này vì đã mắc nợ và rất dễ bị vạ lây. Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn tuần này.
    • Chính sách công nghiệp
      Nguyễn Xuân Nghĩa
      2018-08-07
        Chính sách công nghiệp  AFP Chính sách công nghiệp    Trong khung cảnh chung của những mâu thuẫn về thương mại và đầu tư đang bùng nổ, một vấn đề được đặt ra là phạm trù “chính sách công nghiệp” để một nước có thể tập trung tiềm năng xây dựng các khu vực chế biến ưu tiên của mình. Liệu rằng chính sách đó có đi ngược với nguyên tắc tự do thị trường hay không. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu chuyện này trong một viễn cảnh rộng sau đây. Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào tái ngộ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, trong trận chiến mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, phía Hoa Kỳ có nêu vấn đề về chính sách công nghiệp của Bắc Kinh, thí dụ như kế hoạch “Chế tạo tại Bắc Kinh 2025” hay chương trình thụ đắc công nghệ tin học cho các doanh nghiệp Trung Quốc. Khi đó, vấn đề đặt ra là một quốc gia có vi phạm nguyên tắc tự do của thị trường khi tìm cách ưu đãi các doanh nghiệp nội địa hay không. Ông nghĩ sao về vụ này khi liên tưởng đến trường hợp Việt Nam? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng đây là một đề tài thuộc loại khó hiểu nhất trong năm vì liên quan đến khá nhiều vấn đề, từ lý thuyết kinh tế đến pháp lý và kinh doanh, cho nên sẽ cố gắng trình bày qua từng bước. - Trước hết, từ các nhà tư tưởng tiên phong về kinh tế và mậu dịch vào thế kỷ 18, 19, như Adam Smith rồi David Ricardo, người ta vẫn cho rằng nếu được tự do làm ăn thì các doanh nghiệp lẫn quốc gia đều tìm ra “ưu thế tương đối” của mình. Ưu thế đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố như địa dư, tài nguyên, hay phương tiện sản xuất để chế biến ra các mặt hàng có lợi nhất cho mình về giá cả lẫn phẩm chất, rồi trao đổi các sản phẩm đó với nhau một cách tự do, kể cả qua biên giới, thì kết quả sau cùng là ai cũng có lợi, có lợi hơn là thiết lập chế độ kiểm soát hay bảo vệ theo kiểu ngăn sông cấm chợ. Nhưng sự thật lại không như lý thuyết. Sự thật không như lý thuyết Nguyên Lam: Nguyên Lam biết rằng ông đang trình bày bước đầu tiên của một đề tài ông cho là khó hiểu. Thưa ông, vì sao sự thật lại không như lý thuyết? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sự thật lại không được như vậy vì mỗi thời kỳ, bài toán kinh tế của một quốc gia lại một khác, với những giải pháp áp dụng trong mấy chục năm rồi lại thay đổi. Thí dụ là ngay từ thời lập quốc, chính Hoa Kỳ cũng đã có lúc theo đuổi chính sách công nghiệp để xây dựng khu vực công nghiệp và chế biến của Mỹ hầu cạnh tranh thành công với các nước khác tại Âu Châu như ông Alexander Hamilton đã chủ trương từ năm 1791. Trước đó khá lâu, vào Thế kỷ 17, ông Jean-Baptiste Colbert dưới triều Louis thứ XIV cũng cải cách chế độ thuế khóa, tài chính và công nghiệp để tạo sức mạnh cho nước Pháp tại Âu Châu. Nói chung, các nước tiên tiến thời ấy, như Anh, Mỹ, Pháp, Đức đều có chính sách nâng đỡ kỹ nghệ quốc gia rồi mới tiến dần đến chế độ kinh tế tự do, nhưng ngay trong hệ thống buôn bán tự do giữa các nước với nhau thì xứ nào cũng có một vài khu vực được họ ưu tiên bảo vệ. Bài toán đó cũng đặt ra cho các nước đi sau, những quốc gia mà ta gọi là “đang phát triển”. Nguyên Lam: Đấy là bước thứ hai, thưa ông, bài toán cho các nước đang phát triển là những gì? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các nước đang phát triển đã học hỏi từ các quốc gia đi trước, đa số tại Âu Châu, mà tập trung sức mạnh quốc gia để thiết lập các khu vực sản xuất sẽ chiếm ưu thế sau này. Thí dụ đầu tiên là Nhật Bản với bộ máy hành chính công quyền rất hữu hiệu có nhiệm vụ yểm trợ khu vực tư doanh tiến lên trình độ sản xuất có giá trị cao hơn hàng hóa Âu Mỹ. Sau đó, Nam Hàn cũng học theo Nhật mà có bước đột phá là không tìm cách giảm thiểu nhập khẩu với chính sách gọi là “thay thế nhập khẩu” bằng chiến lược khuếch trương xuất khẩu và xây dựng khả năng sản xuất và xuất cảng các mặt hàng có sức cạnh tranh cao hơn hàng hóa của Nhật Bản, Âu Châu và Hoa Kỳ. Khi đó, khái niệm “chính sách công nghiệp” mới được đặt ra, thậm chí nâng lên trình độ quốc sách là sách lược của quốc gia. Đấy là những tấm gương thành công cho các nước đi sau. Nguyên Lam: Ông nói đến các tấm gương thành công, phải chăng điều ấy còn hàm nghĩa là có trường hợp thất bại? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nói ra thì hơi nghịch nhĩ, các trường hợp thất bại có thể là Liên bang Xô viết ngày xưa hay Trung Quốc và Việt Nam ngày nay. Tôi xin được giải thích thêm để chúng ta có thể hiểu được một chuyện quá phức tạp: - Về lý thuyết - mà như chúng ta đã và đang thấy, lý thuyết nhiều khi lại xa rời thực tế và cần điều chỉnh – các quốc gia cần có chính sách công nghiệp để sửa sai những bất toàn hay thất bại của thị trường. Theo lý thuyết có nội dung can thiệp ấy, trong tiến trình sản xuất và trao đổi, các nước thường chỉ tính phần lợi nhuận cho tư doanh mà ít quan tâm đến lợi ích của xã hội, hay của cộng đồng quốc gia. - Vì chỉ đếm những cái được của tư doanh mà không thấy ra cái mất của xã hội, các chính quyền sáng suốt phải tìm ra chính sách công nghiệp thích hợp để tái cân bằng lợi ích giữa tư doanh và cho xã hội. Thí dụ như một nhà máy thép hay một đập thủy điện cho tư doanh xây dựng có thể cung cấp thép hay điện và thu lợi cho nhà đầu tư lẫn giới tiêu thụ. Nhưng phí tổn xã hội lại là loại “ẩn phí”, các thí tổn ngầm mà ai đó phải trả, giả dụ như nạn ô nhiễm môi sinh hoặc thất thâu về canh nông hay thủy lợi, vì phương tiện sản xuất dành cho dự án này thì không thể dùng vào dự án khác. Do đó, chính sách công nghiệp của một nhà nước anh minh có thể sửa được những thất bại của thị trường. Nhưng khi nhà nước thất bại thì ta lại có nhiều tấm gương khác là chuyện mình sẽ nói sau. Tai họa khi nhà nước thất bại Nguyên Lam: Ông vừa nêu ra một chuyện khá bất ngờ là nhà nước muốn sửa sai những thất bại hay bất toàn của thị trường bằng chính sách công nhiệp nhưng mà chính nhà nước lại thất bại thì cái chính sách công nghiệp đó mới là tai họa. Nguyên Lam xin đề nghị ông trình bày vài thí dụ minh diễn nghịch lý này. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên là khái niệm “thất bại của thị trường” khi so sánh phí tổn và lợi ích của tư doanh và của xã hội. Người ta không dễ đếm được loại kết quả vô hình, như kiến năng, hay kiến thức và khả năng, mà xã hội có thể học được từ các dự án của tư doanh. Chính sách công nghiệp có thể bỏ sót chuyện đó nếu xây dựng các đặc khu kinh tế để khoanh vùng ảnh hưởng khi xứ khác đã bỏ chuyện đó từ lâu là điều Việt Nam nên học. Thứ hai, thị trường có thể thất bại nếu không thấy yêu cầu phối hợp giữa các dự án, nơi này làm nhà máy điện chạy bằng than, bên cạnh lại cần cảnh quan tốt lành để thu hút du khách, là bài toán của Quảng Ninh và Vịnh Hạ Long. Thứ ba là sự chuyển dịch tư bản từ nơi thừa qua nơi thiếu, như tư doanh cần vốn mà khó vay được trên thị trường vì chính sách công nghiệp của nhà nước thiếu sáng suốt. Thứ tư, là lợi nhỏ so với lợi lớn, thuốc chủng ngừa cho trẻ em không chỉ có lợi cho các em được tiêm chủng mà còn có lợi cho các thiếu nhi rong vùng vì tránh bị lây bệnh. Nhưng khi nhà nước không kiểm soát được phẩm chất của thuốc chủng, như chuyện vừa xảy ra tại Trung Quốc, thì đấy không là thất bại của thị trường. Vì vậy, ta cần xét lại phạm trù “thị trường thất bại” khi nhà nước đòi sửa sai bằng chính sách công nghiệp. Nếu nhà nước lại bao biện dùng nhiều khí cụ can thiệp vào thị trường thì đấy là sự thất bại của nhà nước. Nguyên Lam: Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa có nói trước rằng đây là đề tài thuộc loại khó hiểu nhất trong năm. Quả nhiên là thính giả của chúng ta thấy khó hiểu khi nhà nước dùng nhiều khí cụ can thiệp vào thị trường mà thất bại. Xin ông giải thích thêm chuyện can thiệp đó. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta sẽ còn nhức đầu hơn nữa nếu châm thêm yếu tố pháp lý, thí dụ như những quy định của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Chính sách công nghiệp của một quốc gia có thể yểm trợ doanh nghiệp nội địa để gọi là tái quân bình những chênh lệch giữa tư doanh và xã hội, nhưng can thiệp vào khâu nào, từ trước khi tiến tới cạnh tranh hay mãi mãi sau đó? Nhà nước bao biện và toàn trị như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam thường can thiệp rất rộng mà lại nông. Nơi nào và việc gì cũng muốn kiểm soát mà để quá nhiều kẽ hở khiến tay chân của đảng và nhà nước vẫn có thể lọt qua và trục lợi. Đấy là tham nhũng. - Nói về các khí cụ can thiệp trong chính sách công nghiệp thì ta có ngoại hối là tỷ giá đồng bạc, tín dụng là tiền đi vay, có thuế vụ là tăng hay miễn thuế tùy theo đối tượng, ta có quyền cung ứng cho doanh nghiệp nội địa một tỷ lệ hàng hóa nào đó, tức là hạn ngạch về nhập khẩu. Ta còn có hai chuyện hệ trọng nhất là đất đai và quy chế pháp lý của doanh nghiệp nội địa. - Tại Trung Quốc và Việt Nam, thành phần kinh tế nhà nước là công ty quốc doanh vẫn giữ vị trí chủ đạo trong chính sách công nghiệp nên gây ra cạnh tranh bất chính cho tư doanh bản xứ, chưa nói đến tư doanh của nước ngoài. Những mâu thuẫn và tranh cãi hiện nay giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tập trung vào tình trạng cạnh tranh bất chính và nhất là việc không tôn trọng tác quyền hay quyền sở hữu trí tuệ. Chính sách công nghiệp của Bắc Kinh đem lại lợi thế không chính đáng, thậm chí phi pháp nữa. Nguyên Lam: Nếu như vậy, phải chăng các nước có thể có chính sách công nghiệp trong một giai đoạn phát triển nào đó, những thành hay bại thì còn tùy khả năng của từng nhà nước? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Nhìn từ ngắn hạn tới dài hạn, tôi thiển nghĩ rằng các nước đang phát triển đều cần có chính sách công nghiệp trong vài chục năm, với viễn ảnh là sẽ bỏ chính sách đó khi ngang bằng các quốc gia tiên tiến. Suốt vài chục năm đó, lãnh đạo các nước cần viễn kiến và kỷ luật để biết rằng mỗi năm năm thì tiến tới đâu trên một lộ trình đã vạch trước mà không tạo ra lợi thế cho một thiểu số có thể trục lợi và ỷ thế làm liều. Tùy hoàn cảnh riêng, Nhật rồi Nam Hàn hay Đài Loan đều tiến như vậy và thành công qua các ngả khác nhau. Dĩ nhiên, thế giới còn tranh luận về chính sách công nghiệp, là chính đáng hay không, nhưng số quốc gia thành công thật ra lại không nhiều. - Việt Nam có ba chục năm đổi mới mà chưa tiến được chính là vì thiếu viễn kiến và kỷ luật nên chính sách công nghiệp gây tổn thất xã hội, như môi sinh, văn hóa, hay đạo tắc về nghề nghiệp, mà chỉ đem lại ưu thế cho một thiểu số. Đã vậy, trình độ tiếp nhận công nghệ mới lại chưa có vì Việt Nam thiếu đầu tư thích đáng vào lĩnh vực đào tạo và giáo dục cho nguồn tài nguyên quan trọng nhất của quốc gia. - Rốt cuộc thì yếu tố then chốt vẫn là nhân sự trong bộ máy nhà nước khi áp dụng chính sách công nghiệp. Nhà nước không có hệ thống nhân sự liêm chính, có khả năng chuyên môn và nhất là yêu nước thì dù có được cố vấn về chính sách công nghiệp thích hợp vẫn có thể thất bại. Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ ông  về cuộc phỏng vấn tuần này.
    • Sa sút của Trung Quốc là tiến bộ
      Nguyễn Xuân Nghĩa
      2018-07-31
        Công ty Shanghai Gaoqiao ờ Thượng Hải, Trung Quốc  AFP Sa sút của Trung Quốc là tiến bộ    Trận chiến mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đang thu hút sự quan tâm của các thị trường vì hiệu ứng có thể gây ra cho thế giới. Tuy nhiên, khi trận chiến chưa bùng nổ, kinh tế Trung Quốc lại có triệu chứng suy yếu, nên người ta tự hỏi về kết cuộc. Diễn đàn Kinh tế sẽ tìm hiểu chuyện này, nhưng từ một giác độ khác. Nghịch lý Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào tái ngộ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, khi trận chiến mậu dịch giữa hai nền kinh tế dẫn đầu thế giới từ hai bờ biển Thái Bình Dương làm thiên hạ chú ý thì tuần này, thống kê từ Bắc Kinh lại phơi bày sự yếu kém của kinh tế Trung Quốc. Theo nhận xét của ông, Trung Quốc có bị thất thế trước khi phải nhập trận hay không? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin phân tích vụ này từ hai giác độ khác nhau rồi mới hy vọng nêu ra vài kết luận. Thứ nhất, nhìn trên mệnh giá hay bản mặt của các thống kê do Bắc Kinh công bố, quả nhiên là tình hình kinh tế trong Quý Hai vừa kết thúc đã có triệu chứng sa sút. Vì đã biết tính chất khả tín rất thấp của thống kê Trung Quốc, người ta vẫn có thể kết luận là trước khi vào trận, Bắc Kinh đã gặp cảnh bất lợi, nhất là khi lãnh đạo xứ này đang phơi bày nhiều sự bất nhất trong chính sách. Tuy nhiên, và đây là giác độ thứ hai, các chỉ dấu sa sút kinh tế vừa được công bố lại cho thấy lãnh đạo Bắc Kinh đã đạt nhiều tiến bộ. Nguyên Lam: Nguyên Lam xin được nêu ra nghịch lý từ hai nhận xét của ông. Nhận xét thứ nhất là kinh tế Trung Quốc đang có triệu chứng sa sút vào Quý Hai, trước khi lao vào trận chiến mậu dịch với Hoa Kỳ. Nhưng, và đây là nhận xét thứ hai của ông, chỉ dấu sa sút đó lại cho thấy lãnh đạo Bắc Kinh đã đạt tiến bộ. Thưa ông, thính giả của chúng ta có thể tự hỏi, chẳng lẽ sự sa sút lại là chỉ dấu tiến bộ hay sao? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi cố tình trình bày như vậy để nhấn mạnh một khía cạnh là có sự khác biệt trong tầm nhìn ngắn và dài hạn. - Đầu tiên, khi thống kê do Bộ Thương Mại Mỹ công bố hôm Thứ Sáu 27 về đà tăng trưởng ngoạn mục của kinh tế trong Quý Hai, Cục Thống Kê Quốc Gia tại Bắc Kinh lại cho biết tình hình kém khả quan của kinh tế Trung Quốc. Hãy tưởng tượng hai lực sĩ sắp ra đấu sức thì một người lại có báo cáo tốt hơn người kia về thể lực. Vì vậy, kết luận ngắn hạn thì Hoa Ký có thế mạnh hơn Trung Quốc trong trận đấu sắp tới. Tuy nhiên, đây là một cách nhìn có tính chất dài hạn hơn, xưa nay Trung Quốc mắc bệnh tôn sùng chỉ tiêu tăng trưởng, cái bệnh đã lây vào Hà Nội, bây giờ, khi họ công nhận một đà tăng trưởng thấp hơn, thì đấy là một sự tiến bộ về thống kê! Hai tầng lý luận Nguyên Lam: Nguyên Lam bắt đầu thấy ra hai tầng lý luận của chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Xin ông hãy nhắc đến tầng đầu là thống kê ngắn hạn. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Hôm Thứ Ba ngày 30, Cục Thống Kê Trung Quốc cho biết chỉ số đặt mua hàng công nghệ gọi là “Purchasing Managers’ Index hay PMI, đã rớt tới mức thấp nhất kể từ năm tháng vừa qua. Vì chỉ số này có giá trị tiên báo khi cho biết trước số đơn đặt hàng sẽ sử dụng cho sản xuất trong những tháng tới, ta hiểu là sản lượng tương lai có thể giảm. Chi tiết ấy càng xác nhận rằng lãnh đạo Bắc Kinh đang bị phân vân giữa hai ưu tiên là nên cải cách cơ chế cho lành mạnh hơn, hay là nên tiếp tục kích thích sản xuất bằng những biện pháp đã từng gieo họa cho họ.   Biểu đồ chỉ số PMI của Trung Quốc từ năm 2014. AFP   - Chi tiết thứ hai có ý nghĩa không kém là sản lượng của các địa phương. Xưa nay các địa phương đều thi đua báo cáo mức khả quan của kinh tế nên kết số tổng hợp của ngần ấy địa phương đều cao hơn sản lượng kinh tế của cả nước. Sự khác biệt đó là một vấn đề về thống kê của Trung Quốc mà chúng ta đã phân tích nhiều lần trên diễn đàn này. Bây giờ, điểm lại sản lượng kinh tế trong sáu tháng đầu năm của 29 tỉnh thì chúng ta thấy gì? Thấy là chỉ có 15 tỉnh là đạt mức tăng trưởng cao hơn bình quân của toàn quốc. Tính theo cùng kỳ so với năm ngoái là 21 tỉnh, thì ta có hai kết luận: hoặc là tình hình các tỉnh đã sa sút hơn, hoặc là các tỉnh đã báo cáo trung thực hơn xưa! Nếu trung thực hơn thì đấy là một sự tiến bộ… Nguyên Lam: Bây giờ chắc quý thính giả của mục Diễn đàn Kinh tế đã hiểu ra chuỗi lý luận của ông Nghĩa. Bắc Kinh đã có tiến bộ khi các tỉnh bớt thổi phồng thống kê kinh tế tại địa phương, nhờ đó mà lãnh đạo tại trung ương có thể biết rõ hơn về thực tế ở dưới. Nguyên Lam xin đề nghị ông giải thích thêm vụ này, là tầng thứ hai của thống kê dài hạn. Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin trở ngược về quá khứ một chút thì mình sẽ thấy. - Từ cả chục năm nay, lãnh đạo Bắc Kinh đã chật vật đối phó với một hiện tượng là đảng viên cán bộ tại địa phương thường cung cấp các báo cáo kinh tế tốt đẹp lên trung ương nên trung ương không còn biết rõ về thực tế ở dưới. Lý do của hiện tượng này là các đảng viên không chịu trách nhiệm với quần chúng ở dưới nhưng được thăng quan tiến chức nhờ sự cất nhắc của thượng cấp ở trên. - Đặc tính của hệ thống chính trị độc tài xưng danh “dân chủ tập trung” mới dẫn đến tai họa vì trung ương bị bịt mắt. So với tai họa về thông tin của “Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại” thời Mao Trạch Đông làm mấy chục triệu người chết oan thì tình hình có vẻ khá hơn sau nhiều đợt cải cách về kỹ thuật thu thập thống kê, nhưng so với yêu cầu quản lý một nền kinh tế quá lớn và quá phức tạp trên một lãnh thổ bát ngát thì việc cải cách ấy vẫn chưa đủ. - Tháng 10 năm ngoái, vào Đại hội đảng của Khóa 19, Tổng Bí thư Tập Cận Bình phê phán đặc tính “tôn sùng đà tăng trưởng kinh tế” của Trung Quốc, là điều ai cũng biết từ vài chục năm qua. Thế rồi, dường như lời phán đó lại công hiệu vì hôm Chủ Nhật 28, ta thấy có khác lạ trong thống kê kinh tế của 31 tỉnh thành, là các tỉnh và năm thành phố do trung ương trực tiếp quản lý, vì phân nửa có đà tăng trưởng thấp hơn hoặc bằng với trung bình toàn quốc. Kết số tổng cộng có nghĩa là tăng trưởng toàn quốc chỉ là 6,8%, hơi thấp hơn chỉ tiêu được lãnh đạo đưa ra. Sự tiến bộ của Bắc Kinh là thu hẹp sai số hay sự khác biệt giữa thống kê của trung ương với thống kê của các địa phương. Bớt nói dối cũng đã là một tiến bộ! "Làm láo báo cáo hay" Nguyên Lam: Nguyên Lam không ngờ rằng trong kinh tế học hay kinh tế chính trị học, người ta cũng có nhiều lý luận mỉa mai châm biếm lâu lâu được ông nhấn mạnh. Thưa ông, diễn đàn này cũng có mục đích trình bày nhiều sự thật về kinh tế cho người dân Việt Nam cùng biết nên Nguyên Lam xin được yêu cầu ông khai triển thêm cho bà con dễ nắm vững thực tế.       Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Từ thời Đặng Tiểu Bình tới Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào, lãnh đạo Bắc Kinh thấy ra vấn đề trong thống kê là phần kỹ thuật liên quam đến bộ môn kế toán quốc gia và phần chính trị là hiện tượng “làm láo báo cáo hay” của đảng viên cán bộ mà người Việt Nam cũng đã biết. Họ đã cố cải tiến phần kỹ thuật, nhưng lãnh đạo Việt Nam thì chưa. - Qua phần chính trị thì Tổng bí thư Tập Cận Bình mới là người thúc đẩy với cái búa đả hổ đập ruồi. Đó là cho Cục Thống Kê Quốc Gia quyền thu thập thống kê ở các cấp địa phương kể từ năm tới, và đưa đảng viên đi giám sát hành vi và giám định kế toán với vai trò quan trọng và đáng sợ của Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật của Trung ương đảng, nổi tiếng về việc diệt trừ tham nhũng. Kết quả là nhiều tỉnh đã tự thú là thổi phồng thống kê về sản lượng kinh tế của địa phương, là hoàn cành suy sụp của các tỉnh Đông Bắc, như Liêu Ninh, Hắc Long Giang và Cát Lâm, vì là trung tâm công nghiệp nặng thời xưa nhưng nay lại giấu biến sự thật. Nhiều tỉnh cũng khai gian vì mắc nợ quá nhiều và thổi phồng thống kê để phủ lấp rủi ro. Nguyên Lam: Nếu như vậy, có lẽ người ta hiểu ra tại sao ông Tập Cận Bình cố gắng tập trung quyền lực về trung ương và vào trong tay cá nhân vì trung ương không thể quản lý được nếu chỉ căn cứ trên thống kê sai lạc. Thưa ông, người ta còn nên thấy ra cái gì khác trong hiện tượng thống kê đó của Bắc Kinh? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Vì kinh tế tăng trưởng thiếu phẩm chất – không cân đối, không phối hợp, không công bằng và không bền vững, ít ra là “bốn không” như thế hệ lãnh đạo trước là Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo đã nhận định – Trung Quốc không phát triển mà lại tích lũy nhiều nhược điểm. Tiếp nhận di sản đó, thế hệ lãnh đạo thứ năm là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường lên cầm quyền từ sau Đại hội 18 vào cuối năm 2012 mới phải tiến hành cải cách và chuyển hướng kinh tế mà chưa xong. Với chủ trương thanh lọc hàng ngũ, Tập Cận Bình phải đả hổ diệt ruồi để thanh trừng các đối thủ hay những kẻ cưỡng chống cải cách và nay mới bắt đầu ra tay thì lại lâm vào trận chiến mậu dịch với Hoa Kỳ. - Nhưng bài toán thống kê và tầm nhìn vẫn có thể che mắt lãnh đạo ở trên khi họ phải tiến hành một kế hoạch quá lớn lao trước các vấn đề trầm trọng như núi nợ sẽ sụp đổ, môi sinh bị hủy hoại khi tham nhũng và gian dối vẫn tràn lan trong hàng ngũ đảng viên cán bộ. Phân tâm và lúng túng Nguyên Lam: Đâm ra tình hình bên trong của Trung Quốc cũng có nhiều bài toán nan giải mà bên ngoài thì lãnh đạo lại gây phản ứng từ nhiều quốc gia vì hành vi bành trướng của họ. Nếu vậy thưa ông, để kết luận thì tình hình sẽ ra sao khi trận chiến mậu dịch có thể bùng nổ với Hoa Kỳ trong thời gian tới đây? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Mặc dù ông Tập Cận Bình và Bắc Kinh đã đạt tiến bộ nhỏ về thống kê như ta vừa nói ở trên, tiến bộ đó chỉ có tính cách cục bộ. Ngay trước mắt, họ bị phân tâm và lúng túng vì hai mục tiêu trái ngược, một là phải cố tiến hành cải cách cơ chế cho lâu dài, hai là phải bơm tiền kích thích kinh tế để tăng sản lượng và giảm thất nghiệp ngay trước mắt. Bài toán ngắn hạn là kích thích lại dẫn tới nguy cơ chiến tranh ngoại hối khi đồng Nguyên tuột giá làm đầu tư nước ngoài sẽ sụt mà nạn tẩu tán tư bản lại tăng trong khi Bắc Kinh bị Hoa Kỳ kết tội lũng đoạn hối đoái. Bắc Kinh rơi vào cảnh tiến thoái gì cũng gặp bất lợi. Trong ngắn hạn là bị thất thế với Hoa Kỳ khi cuộc đua bùng nổ, trong dài hạn là nội bộ chống đối vì việc cải tổ nào cũng xâm phạm vào quyền lợi của một số thành phần đảng viên. - Từ Đại hội 18 vào cuối năm 2012, ông Tập Cận Bình đã nói là phải chú trọng tới phẩm hơn lượng trong đà tăng trưởng kinh tế. Nay ông mới chỉ cải tiến về lượng khi bỏ tù các đảng viên nói láo bằng thống kê, chứ về phẩm thì ông ta vẫn dậm chân tại chỗ. Nếu có đứng trên đỉnh cao nhất mà dậm chân tại chỗ thì lãnh tụ chỉ gây thêm trò cười về tệ sùng bái cá nhân như Mao Trạch Đông ngày xưa, là điều mà nhiều trí thức trong đảng đã bắt đầu nói ra! Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn đầy tính mỉa mai của tuần này.
    • Ngoại thương và an ninh Đông Nam Á
      Nguyễn Xuân Nghĩa
      2018-07-24
        Lãnh đạo các quốc gia ASEAN và Tổng thống Mỹ Donald Trump chụp ảnh chung bên lề Thượng đỉnh kỷ niệm 40 năm quan hệ ASEAN - Mỹ tại Manila, Philippine hôm 12/11/2017  AFP Ngoại thương và an ninh Đông Nam Á    Mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc đã trở nên gay gắt hơn và gây ra mối lo cho các nước đang phát triển bị kẹt ở giữa theo kiểu “trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết”. Ngược lại, cũng có một số quan điểm theo đó, Trung Quốc sẽ phải dung hợp với áp lực từ phía Hoa Kỳ mà chuyển dịch khu vực chế biến của họ qua các nước khác và đấy là một cơ hội thuận tiện cho Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế sẽ đi xa hơn chuyện này… Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin chào tái ngộ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, theo nhận xét của ông, Việt Nam có hy vọng gì trong kịch bản là khai thác được mâu thuẫn về mậu dịch giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc? Ảnh hưởng của chiến tranh mậu dịch Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ là không và xin được giải thích. Sau gần ba chục năm giao dịch trong tinh thần lạc quan về trào lưu “toàn cầu hóa”, các nước đã xây dựng một chuỗi cung ứng đan kết với nhau, cho nên sẽ cần vài ba năm để phân giải lợi hại khi trào lưu đó bị đẩy lui vì thực chất là xứ nào cũng truy tìm tối đa quyền lợi trong giao dịch mà vẫn lặng lẽ bảo vệ các khu vực trọng yếu của mình bằng chính sách bảo hộ ngấm ngầm. Ngày nay, Hoa Kỳ đòi xét lại mối quan hệ bất bình đẳng ấy. - Thứ hai, trước áp lực của Hoa Kỳ, nhiều doanh nghiệp hay địa phương Trung Quốc có thể chuyển dịch cơ sở của mình qua xứ khác, thí dụ như Việt Nam, cơ bản thì cũng vẫn để bảo vệ quyền lợi của họ. Nhưng Việt Nam có nền kinh tế quá lệ thuộc vào kinh tế Trung Quốc trong chuỗi cung ứng lạc hậu, là cung cấp đất đai và nhân công rẻ để đem nguyên vật liệu của Trung Quốc về chế biến lại với trị giá gia tăng rất thấp rồi xuất khẩu ra ngoài dưới dạng “sản phẩm của Việt Nam”. Điều ấy không dễ qua mặt Hoa Kỳ có khi còn gieo họa cho Việt Nam. - Thứ ba, trong kịch bản đánh tráo thành công, doanh nghiệp Trung Quốc vẫn mất vài ba năm, cho nên Việt Nam không lập tức có ngay các hãng xưởng ráp chế cho xứ láng giềng này. Có lẽ Việt Nam nên thấy thế giới đã đổi khác mà tự chuẩn bị cho việc đổi mới nữa. Nguyên Lam: Nói về sự kiện thế giới đã đổi khác, Nguyên Lam xin được nhắc lại nguyên ủy của mâu thuẫn hiện tại. Trong Thượng đỉnh hồi Tháng Tư năm ngoái tại Mar-a-Lago của tiểu bang Florida, lãnh đạo hai nước là Tổng thống Donald Trump và Tổng bí thư Tập Cận Bình đề ra thời hạn 100 ngày để giải quyết các mâu thuẫn trong quan hệ kinh tế giữa đôi bên. Thời hạn ấy đã chấm dứt và cách nay đúng một năm, hôm Thứ Tư 19 Tháng Bảy năm 2017, Phó Thủ tướng Bắc Kinh là Uông Dương gặp Tổng trưởng Ngân khố là Steve Mnuchin và Tổng trưởng Thương mại Wilbur Ross trong khuôn khổ đối thoại chiến lược, hai bên không đạt thỏa thuận nào, dù chỉ là một bản thông cáo chung. Ngày nay, người ta mới thấy ra nguy cơ của một trận chiến mậu dịch. Ông nghĩ sao về chuyện đó? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Ngẫm lại thì chúng ta đã có những thông tin sai lạc. Về mối quan hệ với Trung Quốc, thông tin sai lạc là ông Trump chỉ là con buôn nên vì quyền lợi kinh tế mà sẽ thỏa hiệp với Bắc Kinh. Sự thật là Chính quyền Trump không hề nhượng bộ Bắc Kinh về kinh tế nên phiên họp năm ngoái với Uông Dương đã tan vỡ, ông ta ra về mà tránh gặp báo chí để giải thích. Chúng ta biết Uông Dương là Ủy viên Bộ Chính Trị, từng là Bí thư Trùng Khánh rồi Bí thư Quảng Đông, với lập trường khá cởi mở chứ không giáo điều mà sau đó không thuyết phục nổi phái bộ Mỹ. Trong khi đó, phía Hoa Kỳ lại đưa ra nhiều đòi hỏi cụ thể, như về ngành thép và nhôm, bây giờ ta mới thấy rằng đó là màn đầu của nhiều mâu thuẫn gay gắt và đa diện hơn. - Đó là Chính quyền Trump lại chấp thuận đề nghị của Bộ Quốc Phòng là tăng mức độ bảo vệ tự do hàng hải trên Biển Đông trước sự bành trướng của Bắc Kinh. Điều ấy có khác với Chính quyền Barack Obama trước đó. Lý do là từ năm ngoái, ông Trump giàng vấn đề an ninh vào quan hệ ngoại thương, như kéo vụ hỏa tiễn Bắc Hàn vào việc mua bán với Trung Quốc, nêu vấn đề quân sự và phần đóng góp cho Minh ước NATO vào luồng giao dịch với Đức, và hứa hẹn cung cấp khí đốt cho Ba Lan và nhiều nước Đông Âu để họ khỏi bị Nga bắt chẹt trong khi tại thủ đô Warsaw của Ba Lan ông Trump nhắc lại điều 5 của Hiến chương NATO là phải bảo vệ các thành viên chứ không đòi xóa bỏ Minh ước NATO. Năm nay, chúng ta thấy lại chuyện đó nhân chuyến thăm viếng Âu Châu của ông Trump. Nguyên Lam: Quả thật là nếu không theo dõi mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc thì người ta dễ có ấn tượng sai rằng nước Mỹ sẽ nhượng bộ Bắc Kinh và có thể hy sinh quyền lợi của các nước Đông Nam Á, vốn là khu vực trọng yếu về an ninh theo quan điểm của Chính quyền Trump. Khi an ninh quốc gia là một phần của mậu dịch thì bài toán trở thành rắc rối hơn, như vậy, thưa ông phải chăng các nước Đông Nam Á không dễ gì bắt cá hai tay là dựa vào Trung Quốc về kinh tế nhưng dựa vào Hoa Kỳ về an ninh? Nguyễn-Xuân Nghĩa – Thưa là như vậy. Cũng nói về yếu tố an ninh, ít ai chú ý là Trung Quốc ra sức xuất cảng nạn ô nhiễm môi sinh khi ào ạt đầu tư vào các nước khác. Dư luận đả kích Chính quyền Trump là ra khỏi Hiệp ước Chống Khí Thải tại Paris mà cho rằng Hoa Kỳ nhường Bắc Kinh vai trò lãnh đạo việc hạn chế khí thải. Sự thật thì Trung Quốc là vô địch thế giới về việc hủy hoại môi trường sinh sống bên trong lãnh thổ và sau khi hứa hẹn tung ra hơn 360 tỷ đô la để sản xuất năng lượng sạch vào năm 2020 thì tung tiền vào các nước đang phát triển để thực hiện các dự án thủy điện, khai thác dầu khí hay than đá vốn dĩ gây họa cho môi sinh nên ngày nay mới bị cư dân tại địa phương biểu tình phản đối. Lập trường của các nước Đông Nam Á Nguyên Lam: Nguyên Lam hiểu thêm vì sao ông nhấn mạnh là nên nhìn vào bối cảnh với giác độ mở rộng thay vì chỉ tập trung vào vài chuyện trước mắt mà không thấy toàn cảnh. Thí dụ như hôm 14 Tháng Bảy năm ngoái, Indonesia có một quyết định đáng chú ý là đặt tên vùng biển vây quanh quần đảo Natuna trong phạm vi đặc quyền kinh tế của họ là “Biển Bắc Natuna”. Điều ấy khiến các nước Đông Nam Á chú ý vì vùng biển đó cũng nằm trong khu vực mà Trung Quốc gọi là thuộc chủ quyền của mình với cái lưỡi bò chín khúc. Bây giờ ông nghĩ sao về lập trường của các nước Đông Nam Á trong luồng giao dịch gọi là công bằng với các nước khác? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Năm qua, Chính quyền Indonesia của Tổng thống Joko Widodo ra nhiều biện pháp chống lại việc Trung Quốc lấn lướt tại vùng biển ngoài khơi quần đảo Natuna, mà một phần bị Trung Quốc đưa vào trong đường lưỡi bò trên Biển Đông mà Bắc Kinh dùng làm cơ sở đòi chủ quyền. Thí dụ như Jakarta tăng cường lực lượng võ trang, ráo riết tuần tra và thực thi luật pháp trong vùng. Tổng thống Jokowi cũng hai lần thăm căn cứ quân sự của Indonesia tại Natuna để tỏ quyết tâm bảo vệ quyền lợi trên vùng đặc quyền kinh tế của Natuna. - Trong khi ấy, ta cũng thấy Indonesia cùng Malaysia và Philippines tăng cường hợp tác quân sự chống lại quân khủng bố Hồi giáo trong khu vực với sự yểm trợ kín đáo của Hoa Kỳ. Vì vậy, quả thật là các nước Đông Nam Á đang là đối tượng tranh thủ của hai cường quốc tại hai bờ Thái Bình Dương. - Nói về đổi tên biển thì tôi xin được nhắc lại thế này. Sau các nhà địa dư học Âu Châu, các nước trên thế giới đều quen gọi vùng biển tiếp cận với Trung Quốc là East China Sea, mà Bắc Kinh dịch là Biển Hoa Đông. Còn vùng biển Đông Nam Á mà ta gọi là Đông Hải thì họ gọi là Biển Hoa Nam, South China Sea. Điều ấy không hề có nghĩa là hai vùng biển đó thuộc về Trung Quốc như Trung Cộng ngày nay vẫn đòi, cũng như Ấn Độ Dương không thuộc về xứ Ấn Độ. Chúng ta không lạc đề đâu, khi nhắc lại những sự thật cơ bản bên dưới sinh hoạt kinh tế.   Thiếu cơ chế an ninh Nguyên Lam: Bây giờ, khi nói về mâu thuẫn giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Đông Nam Á thì ông thấy rằng thời sự nay mai có thể là những gì? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin nói trước hết về  mâu thuẫn và nghịch lý của 10 nước Đông Nam Á, thành viên của Hiệp hội ASEAN ra đời vào năm 1967. Trước hết, các nước có quá nhiều khác biệt chứ không thuần nhất. Về địa dư thì có các nước quần đảo, với lãnh thổ tản mác qua 70 ngàn đảo như Philippines, hay 17 ngàn đảo như Indonesia, còn Malaysia thì lại chia làm hai, bên trong có nhiều sắc tộc hay tôn giáo và nói vài trăm thổ ngữ. Làm sao thống nhất để cai trị một xứ sở như vậy là bài toán sinh tử. Cũng về địa dư, ta có các nước nằm trong lục địa Á Châu như bán đảo, thí dụ là ba nước Việt, Miên, Lào trên bán đảo Đông Dương, hay Thái Lan và Miến Điện, thì lại bị núi rừng chia cắt và có dòng Mekong chạy ngang thì lại bị Trung Quốc phá hủy ngay từ thượng nguồn.   Ngoại thương và an ninh Đông Nam Á AFP   - Các quốc gia Đông Nam Á từng có tranh chấp với nhau và thường chú ý vào an ninh ở bên trong sau khi cố giành lại nền độc lập từ sau Thế chiến II. Nhưng nghịch lý ở đây là ngần ấy nước, dù là quần đảo hay bán đảo, đều thiếu lực lượng hải quân tương xứng cho yêu cầu bảo vệ an ninh của họ! Ngoại lệ là Singapore, một quốc đảo nhỏ xíu có sức mạnh hải quân khả dĩ tự vệ mà không thể lãnh đạo cả khối! - Đâm ra một khu vực trải rộng trên hơn bốn triệu cây số vuông, với hơn 650 triệu dân sản xuất được ba ngàn tỷ đô la, và sống nhờ buôn bán với nhau ở ngoài biển lại chỉ là một câu lạc bộ kinh tế thiếu khả năng bảo vệ an ninh, như một Minh ước Quân sự NATO bên Âu Châu. Xứ nào cũng muốn làm ăn với Trung Quốc mà trên đầu lại cần lá chắn của Mỹ và mong được Nhật Bản, Úc và Ấn Độ yểm trợ để khỏi bị Trung Quốc bắt nạt! Nguyên Lam: Ông vừa nhắc đến vài sự kiện bất ngờ. Liên hiệp Âu châu với hơn 500 triệu dân, sản xuất khoảng hai chục ngàn tỷ đô la và có Minh ước NATO để bảo vệ. Hiệp hội ASEAN có hơn 650 triệu dân, sản xuất được ba ngàn tỷ nhưng thiếu cơ chế an ninh thống nhất để tự vệ và không có lực lượng hải quân hỗn hợp khả dĩ ngăn nổi sự bành trướng của Bắc Kinh nên phải trông vào Hoa Kỳ. Thưa ông, bây giờ làm sao các nước có thể duy trì quyền lợi an ninh và kinh tế với hai cường quốc trên bờ Đông Tây của Thái Bình Dương? Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra, địa dư phân tán của khu vực Đông Nam Á cũng lại là bài toán cho Bắc Kinh. Khu vực này có đường hàng hải sinh tử cho ba nền kinh tế có sức xuất khẩu rất cao là Trung Quốc, Nhật Bản và Nam Hàn, để bán hàng qua Âu Châu và Bắc Mỹ hoặc để mua nguyên nhiên vật liệu từ Úc và Trung Đông. Các đường hàng hải ấy phải đi qua năm eo biển chiến lược mà Bắc Kinh không kiểm soát nổi vì do Hoa Kỳ bảo vệ với sức mạnh của một siêu cường. Do đó, bài toán của ASEAN là làm sao cân bằng được sức ép của các cường quốc ở vòng ngoài và tìm cách dung hòa quan điểm với Hoa Kỳ để được bảo vệ. - Khi Chính quyền Hoa Kỳ quyết liệt bảo vệ quyền tự do hàng hải trong khu vực chứ chẳng dễ thỏa hiệp với Bắc Kinh thì đấy là cơ may cho Đông Nam Á. Các nước phải cân nhắc lại quyền lợi kinh tế khi đi với Trung Quốc để kiếm ăn, nhưng vẫn cần sự yểm trợ quân sự của Hoa Kỳ để khỏi bị bóp cổ ngoài biển. Nửa thế kỷ sau khi thành lập và canh tân kinh tế, Hiệp hội ASEAN đang đối diện với thực tế phũ phàng đó mà không nước nào đủ mạnh để lãnh đạo toàn khối, hoặc có tiếng nói của một trưởng tràng. Ngẫm lại thì Việt Nam đã hụt cơ hội đó từ năm 1945 và nay còn mơ tưởng cơ hội trám vào khoảng trống do Trung Quốc để lại mà thực chất thì vẫn là kinh tế vệ tinh của Bắc Kinh! Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ ông  về cuộc phỏng vấn tuần này.